Home / Tin tức Đài Loan / Thành phố Đài Nam Đài Loan – Nét cổ kính giữa Đài Loan hiện đại

Thành phố Đài Nam Đài Loan – Nét cổ kính giữa Đài Loan hiện đại

Thành phố Đài Nam Đài Loan là một thành phố trực thuộc trung ương của Trung Hoa Dân Quốc. Nó là thành phố lớn thứ năm của Trung Hoa Dân Quốc, sau Tân Bắc, Cao Hùng, Đài Trung và Đài Bắc. Đài Nam là thành phố cổ nhất ở Đài Loan và là thủ đô của Đài Loan trong thời đế quốc. Nó nổi tiếng với các đền thờ, các tòa nhà lịch sử và đồ ăn nhẹ.

Bản đồ vị trí địa lý của thành phố Đài Nam

Vài nét về quá trình hình thành và phát triển của thành phố Đài Nam

Đài Nam ban đầu được Công ty Đông Ấn Hà Lan thành lập với vị thế là một căn cứ cai trị và giao thương gọi là pháo đài Zeelandia trong thời kỳ người Hà Lan cai trị Đài Loan. Sau khi Trịnh Thành Công đánh bại người Hà Lan vào năm 1661, Đài Nam trở thành trung tâm của Vương quốc Đông Ninh cho đến năm 1683 và sau đó là đô phủ của phủ Đài Loan dưới sự cai trị của nhà Thanh đến năm 1887, khi đô phủ chuyển đến Đài Bắc. Đài Nam về mặt lịch sử là một trong các thành phố cổ nhất tại Đài Loan, tên cũ của thành phố, Tayouan (大員, Đại Viên), được cho là nguồn gốc của từ “Taiwan” (Đài Loan).

Thành phố cũng là một trong các trung tâm văn hóa của Đài Loan, với nền văn hóa dân gian giàu bản sắc bao gồm cả đồ ăn nhanh nổi tiếng của địa phương, bảo tồn các nghi lễ của Đạo giáo và các truyền thống bản địa khác. Những công trình đầu tiên của thành phố còn lại là miếu Khổng Tử Đài Nam, xây năm 1665, những phần của lại của Đông môn và Nam môn của thành cổ, và vô số di tích lịch sử khác. Đài Nam tuyên bố rằng có nhiều đền chùa Phật giáo và Đạo giáo hơn bất kỳ thành phố nào khác tại Đài Loan.

Các quận huyện của thành phố Đài Nam

Bản đồ các quận huyện chính của thành phố Đài Nam Đài Loan

An Bình: Trong thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng Đài Loan, An Bình là một nơi được phép giao thương giữa Đài Loan thuộc Nhật và Trung Quốc. An Bình vốn là một hòn đảo nhỏ nằm ngoài bờ biển đảo Đài Loan cho đến thế kỷ 19, khi eo biển giữa đảo và đất liền được bồi lắng. An Bình có diện tích 11,2191 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 63.372 người thuộc 23.546 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 5648,6 người/km².

An Nam: Đây là một quận nông ngư nghiệp ven biển và có mức độ phát triển thấp so với Đài Nam. An Nam có diện tích 107.2016 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 đạt 179.180 người thuộc 55.406 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 1671,4 người/km².

Quận Đông: Đây là một trong những quận trung tâm của thành phố. Quận Đông có diện tích 12,7221 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 193.871 người thuộc 71.315 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 15238,9 người/km².

Quận Trung Tây: Đây là quận trung tâm của thành phố và được sáp nhập từ hai quận Tây và Trung từ ngày 1 tháng 4 năm 2004. Khu vực quận từng là thủ phủ của Đài Loan trong gần 200 năm. Quận Trung Tây có diện tích 6,4486 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 đạt 78.837 người thuộc 30.240 hộ gia đình, mật độ cư trú là 12225,4 người/km².

Quận Nam: Cảng An Bình và sân bay Đài Nam nằm trên địa bàn của quận.Quận Nam có diện tích 28,0383 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 126.209 người thuộc 43.701 hộ gia đình, mật độ cư trú là 4501,3 người/km².

Quận Bắc: Quận có địa hình bằng phẳng và nằm ngay phía nam của đường chí tuyến bắc. Quận Bắc có diện tích 10,4340 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 132.076 người thuộc 48.557 hộ gia đình, mật độ cư trú là 12658,2 người/km².

Tân Doanh: Ngành công nghiệp đường đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của quận. Tân Doanh có diện tích 38,5386 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 78.462 người trong 27.483 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 2035,9 người/km².

Vĩnh Khang: Vĩnh Khang từng là thành phố lớn nhất của huyện Đài Nam từ năm 1977 cho đến khi huyện hợp nhất với thành phố Đài Nam vào ngày 25 tháng 12 năm 2010. Vĩnh Khang có ngành công nghiệp chế tạo và chế biến thực phẩm phát triển. Vĩnh Khang cũng là nơi tập trung một số trường đại học và cao đẳng như Đại học Công nghệ Đài Nam, Đại học Công nghệ Côn Sơn, Đại học Công nghệ Miền Nam Đài Loan.

Bạch Hà: Một số bộ tộc thổ dân Siraya hiện vẫn sinh sống trên địa bàn quận tuy nhiên hiện văn hóa của họ đã đồng hóa với người Hán. Bạch Hà tiếp giáp với huyện Gia Nghĩa ở phía bắc và phía đông. Quận có diện tích 126,4046 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 31.074 người thuộc 10.965 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 245,8 người/km².

Giai Lý: Trong thời kỳ Đài Loan là thuộc địa của Nhật Bản, đã có một vụ thảm sát xảy ra tại Giai Lý sau khi một hoàng tử Nhật Bản bị ám sát tại đây. Giai Lý nằm cách pháo đài Zeelandia khoảng 15 km về phía bắc. Giai Lý có diện tích 38,9422 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 59.226 người trong 19.503 hộ gia đình, mật độ dân cư đạt 1520,9 người/km².

Ma Đậu: Tên của quận được bắt nguồn từ ngôn ngữ của thổ dân Siraya là Moatau hay “Mattou” và địa bàn quận trước đây là nơi cư trú của bộ tộc này. Dưới thời Đài Loan là thuộc địa của Nhật Bản, năm 1910, nhà máy đường Ma Đậu đã được xây dựng. Ma Đậu hiện có diện tích 53,9744 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 45.686 người trong 15.130 hộ gia đình, mật độ cư dân đạt 846,4 người/km².

Thiện Hóa: Thiện Hóa trước đây là nơi cư trú của thổ dân Siraya và hiện vẫn là một khu vực nông nghiệp. Quận có diện tích 55,3097 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 43.845 người thuộc 14.860 hộ gia đình, mật đô dân cư đạt 792,7 người/km².

Tân Hóa: rong quá khứ, địa bàn quận là nơi cư trú của thổ dân Siraya và được gọi với cái tên là Tavocan. Hiện nửa phía đông của quận nằm trong khu phong cảnh quốc gia Siraya. Tân Hóa có diện tích 62,0579 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 44.007 người trong 13.768 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 709,1 người/km².

Học Giáp: Địa hình Học Giáp khá bằng phẳng tuy nhiên đất đai lại bị nhiễm mặn do nằm gần biển. Diện tích của quận là 53,9919 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 27.664 người thuộc 9.580 hộ gia đình, mật độ cư trú là 512,4 người/km².

Diêm Thủy: Quận có địa hình bằng phẳng, không có núi hay đồi. Diêm Thủy có diện tích 52,2455 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 đạt 26.939 người thuộc 9.983 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 515,6 người/km².

An Định : Địa hình An Định là đồng bằng, không có đồi núi hay hồ nước. Quận có diện tích 31,2700 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 đạt 30.241 người thuộc 9.419 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 967,1 người/km².

Bắc Môn: Bắc Môn là nơi sông Cấp Thủy đổ ra eo biển Đài Loan. Quận có địa hình bằng phẳng và có một số diện tích đất ngập nước với tài nguyên động thực vật phong phú. Bắc Môn có diện tích 44,1003 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 12.260 người thuộc 4.378 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 278 người/km².

Đại Nội: Quận có trên 70% diện tích là đồi núi thấp và chủ yếu phát triển về nông nghiệp. Đại Nội có diện tích 70,3128 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 10.752 người thuộc 4.060 hộ gia đình, mật độ dân cư là 152,9 người/km².

Đông Sơn: Đây là một quận nông nghiệp nằm trên lưu vực sông Cấp Thủy và địa hình chủ yếu là đồi núi. Đông Sơn có diện tích 124,9178 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 22.834 người thuộc 8.235 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 182,8 người/km².

Quan Miếu: Đây là một quận nông thôn và địa hình chủ yếu là đồi núi. Quan Miếu có diện tích 53,6413 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 35.761 người thuộc 10.728 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 666,7 người/km².

Quan Điền: Đây là một quận nông thôn và là quê hương của cựu Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc Trần Thủy Biển. Quận có diện tích 70,7953 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 21.991 người thuộc 7.616 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 310,6 người/km².

Quy Nhân: Đây là một quận nông thôn và nền kinh tế dựa chủ yếu vào nông nghiệp. Diện tích của Quy Nhân là 55,7913 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 65.996 người thuộc 20.774 hộ gia đình, mật độ dân cư đạt 1182,9 người/km².

Hậu Bích: Đây là một quận nông thôn nằm trong lưu vực sông Cấp Thủy và địa hình cao dần về phía đông bắc. Diện tích Hậu Bích là 71,2189 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 25.639 người thuộc 8.823 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 360 người/km².

Tướng Quân: Quận nằm ở ven biển và phát triển các ngành nông ngư nghiệp và có một hải cảng. Diện tích của Tướng Quân là 41,9796 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 21.314 người thuộc 7.432 hộ gia đình, mật độ cư trú là 507,7 người/km².

Lục Giáp: Quận có hình dạng hẹp, kéo dài từ khu vực đồi núi phía đông tới đồng bằng Gia Nam ở phía tây. Diện tích của Lục Giáp là 64,5471 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 23.585 người thuộc 7.683 hộ gia đình, mật độ cư trú là 365,4 người/km².

Liễu Doanh: Quận có địa hình đồi núi ở phía đông và phía tây khá bằng phẳng. Liễu Doanh là một quận nông thôn và có diện tích là 61,2929 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 22.461 người thuộc 7.793 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 366,5 người/km².

Long Khi: Đây là một quận nông thôn, địa hình chủ yếu là đồi núi. Diện tích của Long Khi là 64,0814 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 4.343 người thuộc 1.593 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 67,7 người/km².

Nam Hóa: Địa hình của quận chủ yếu là đồi núi và đây là nơi có độ cao trung bình lớn nhất tại Đài Nam. Diện tích của Nam Hóa là 171,5192 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 8.821 người thuộc 2.827 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 51,4 người/km².

Nam Tây: Địa hình của quận chủ yếu là đồi núi và thuộc về phần đuôi của dãy A Lý Sơn. Diện tích của Nam Tây là 109,6316 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 10.477 người trong 3.565 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 95,6 người/km².

Thất Cổ: Thất Cổ là một quận ven biển, địa hình chủ yếu là đầm phá và rừng ngập mặn. Ngành kinh tế chính của huyện là nông ngư nghiệp. Diện tích của Thất Cổ là 110.1492 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 24.743 người thuộc 8.046 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 224,6 người/km².

Nhân Đức: Nhân Đức nói chung có địa hình bằng phẳng. Diện tích của quận là 50,7664 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 69.938 người thuộc 24.979 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 1377,6 người/km².

Sơn Thượng: Sơn Thượng có khoảng hai phần ba diện tích là đồng bằng và một phần ba là đồi núi. Diện tích quận là 27,8776 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 7.778 người thuộc 2.721 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 279 người/km².

Hạ Doanh: Địa hình của quận khá bằng phẳng và là một phần của đồng bằng Gia Nam. Diện tích của Hạ Doanh là 33,5291 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 25.881 người thuộc 9.118 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 771,9 người/km².

Tây Cảng: Quận nằm trên lưu vực sông Tăng Văn và trước đây từng tồn tại một bến cảng, tuy nhiên do hoạt động bồi lắng nên hiện Tây Cảng chỉ còn là một nơi tập trung hoạt động nông nghiệp. Diện tích Tây Cảng là 33,7666 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 25.133 người thuộc 7.852 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 744,3 người/km².

Tân Thị: Địa hình của quận là đồng bằng và không có ngọn núi nào trên địa bàn. Khu khoa học kỹ nghệ Nam Bộ nằm trên địa bàn quận và đã góp phần đáng kể và tiến trình phát triển. Diện tích của Tân Thị là 47,8096 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 34.934 người thuộc 10.902 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 730,7 người/km².

Ngọc Tĩnh: Đây là một quận miền núi và kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Diện tích Ngọc Tĩnh là 76,3662 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 15.274 người thuộc 5.082 hộ gia đình, mật độ dân cư là 200 người/km².

Tả Trấn: Đây là một quận miền núi, địa hình tuy không cao những khá nhấp nhô với các vách đá và thung lũng. Diện tích của quận là 74,9025 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 5.393 người thuộc 1.974 hộ gia đình, mật độ cư trú là 72 người/km²

Giao thông tại thành phố Đài Nam

Đi chuyển bằng máy bay

Tại Đài Nam không có sân bay quốc tế. Sân bay quốc tế gần nhất nằm ở Cao Hùng . Từ đó bạn có thể đi xe lửa, xe buýt, taxi hoặc xe cho thuê trong 45 phút để đi đến Đài Nam. Tuy nhiên tại Đài Nam cũng có một sân bay nhỏ. Tính đến tháng 7 năm 2014, có các chuyến bay của hãng hàng không Uni Air từ đảo Kim Môn và các đảo Magong tới Đài Nam, và một chuyến bay hàng ngày bởi China Airlines Hồng Kông tới Đài Nam. 

Đi chuyển bằng xe bus

Đài Nam có các tuyến xe buýt liên thành phố tốt với các thành phố khác ở Đài Loan. Tất cả các công ty xe buýt đều có điểm dừng gần các ga xe lửa. Sẽ rất thích hợp nếu bạn muốn đi xe bus từ Đài Nam tới  Đài Bắc vì giá mỗi chuyển chỉ khoảng 300 đến 600Nt (xem thêm: tỉ giá tiền Đài Loan so với tiền Việt).

Bằng tàu hoả

Tại Đài Nam có 2 tuyến đường tàu hỏa chạy qua đó là tàu cao tốc và tàu hỏa thông thường:

Bằng tàu cao tốc (High Speed ​​Rail, HSR)
Đài Nam là một điểm dừng chính trên tuyến đường sắt cao tốc Đài Bắc – Cao Hùng. Giá vé là khoảng 1450 Đài tệ (có chỗ ngồi dành riêng) một chiều từ Đài Bắc Thời gian đi lại từ Đài Bắc bằng Tàu cao tốc tới Đài Nam là 1 giờ và 45 phút.. Điểm dừng bên ngoài thị trấn, ngoài ra bạn cũng có thể bắt tàu với tốc độ chậm hơn tới những nơi gần đó như Đài Trung hoặc Cao Hùng.

Ngoài ra còn có dịch vụ xe buýt đưa đón miễn phí từ ga HSR vào thành phố (và ngược lại) – có 2 tuyến đường để lựa chọn. Một chiếc xe buýt đi qua đền thờ Trịnh Thành Công và Tòa thị chính Đài Nam, một đường khác đi đi tới Bảo Tàng Viện Chi Mei ở Đài Nam.

Bằng tàu hỏa thông thường (Slow Train, TRA)
Đài Nam là một điểm dừng trên tuyến đường sắt phía Tây của Đài Loan Nhà ga nằm ở trung tâm thị trấn. Nếu đi từ Đài Bắc tới Đài Nam bằng tàu hỏa thông thường bạn sẽ mất khoảng từ ​​3,5 giờ đến 6 giờ phụ thuộc vào loại tàu từ Đài Bắc. Ví dụ, vé tàu số 1 (4 giờ) từ Đài Bắc sẽ có giá NT $ 758.

Đi vòng quanh thành phố

Cách tốt nhất để di chuyển quanh thành phố là bằng ô tô, xe đạp hoặc xe máy. Có xe taxi và xe buýt nhưng chúng không thuận tiện cho những người không phải là người Đài Loan. Có một cửa hàng cho thuê xe tay ga bên cạnh nhà ga Thành phố Đài Nam. Cho thuê xe tay ga điện tốn khoảng NT $ 600 mỗi 24 giờ, trong khi xe tay ga chạy bằng khí đốt là NT $ 300-400. Và bạn cần có giấy phép lái xe quốc tế cho xe tay ga chạy bằng khí (không dùng cho điện).

Lưu ý rằng cơ sở hạ tầng giao thông công cộng của Đài Nam bị thiếu mật độ dân cư và các yếu tố địa phương khác, dẫn đến một dịch vụ không đạt tiêu chuẩn, đặc biệt là so với Đài Bắc. Bởi vậy việc các tuyến xe bus đến muộn so với giờ quy định hay có những chuyến xe bus bỏ bến là điều hết sức bình thường tại nơi đây

Nếu bạn đi taxi hãy đảm bảo rằng bạn có một bản đồ hoặc địa chỉ của nơi bạn muốn đến bằng tiếng Trung. Việc đó sẽ giúp cho các tài xế taxi thuận tiện hơn trong việc đưa bạn tới nơi bạn mong muốn.

Ở Đài Nam có gì đẹp, tới Đài Nam thì nên đi đâu?

Đài Nam không có quá nhiều đại điểm nổi tiếng nhưng mỗi điểm đến đều chiếm được cảm tình của những ai đã từng đặt chân tới.

Pháo đài Eternal Golden (Pháo đài Vàng bất diệt)
Pháo đài Eternal Golden tọa lạc tại số 3, đường Guangjhou, Quận Anping. Pháo đài xây dựng trên mảnh đất hình vuông từ thế kỷ XIX bởi một kĩ sư người Pháp nhằm chống lại thế lực của người Nhật. Kết cấu của pháo đài này gồm bốn đại bác đặt ở bốn góc, hào nước sâu bao quanh và cầu treo ở ngay cổng chính. Gặp phải trường hợp khẩn cấp, cầu treo bị chặt để ngăn chặn quân địch không vào bên trong được. Một khu huấn luyện quân sự với 5 khẩu đại bác Armstrong. Pháo đài này được tu sửa năm 1975, sau 100 nắm xây dựng, Chính phủ Đài Loan mở cửa cho du khách tham quan từ 8:30-17:30.

Pháo đài Zeelandia
Một tên gọi khác nữa của pháo đài Zeelandia là Anping, xây dựng năm 1653 bởi người Hà Lan, nằm ở số 82, đường Guosheng, quận Anping . Sau nhiều năm tồn tại, kiến trúc của pháo đài này là những mảnh tường đổ, từ đó toát lên vẻ cổ kính, lưu giữ thành chứng tích lịch sử của pháo đài. Từ pháo đài này, bạn có thể ngắm biển từ trên cao, một nơi tuyệt vời để ngắm hoàng hôn. Pháo đài mở cửa từ 8:30 – 17:30.

Bảo tàng văn học dân tộc
Đài Loan có nét văn hóa riêng nhưng lại có nhiều thứ bắt nguồn từ văn hóa Châu Á, đặc biệt là Trung Quốc. Bảo tàng văn học dân tộc nằm ở số 1, đường Zhongzheng, hoàn thành vào năm 2003. Trước khi trở thành bảo tàng cho khách du lịch tham quan, nơi đây từng là tòa thị chính thành phố Đài Nam từ năm 1916. Khi đến tham quan bảo tàng, du khách còn được tìm hiểu nền văn hóa, dân tộc Đài Loan, những nhà văn, nhà thơ lớn, chiêm ngưỡng những kiến trúc đẹp mắt.

Vườn quốc gia Taijang
Vườn quốc gia Taijiang nằm ở bờ biển phía tây nam của Đài Loan thành lập vào năm 2009. Vườn quốc gia này kéo dài từ vách biển phía nam của Cảng cá Qingshan đến bờ phía nam của sông Yanshui, chủ yếu là đất ven biển.

Một góc nhỏ của vườn quốc quaTaijiang National Park

Đảo chính nằm ở điểm cực tây của Đài Loan và có ngọn hải đăng Guosheng nằm trong phạm vi ranh giới giữa vườn quốc gia và các vùng lân cận. Đất thủy triều là địa hình chủ yếu nằm trên khu vườn này. Vườn quốc gia Taijiang có bốn khu vực đất ngập nước chính là Sông Tăng Văn hình thành miệng đầm lầy, vùng đất ngập nước Sicao, vùng đất ngập mặn Qigu Salt và vùng đất ngập nước sông Yanshui, tất cả đều mang tầm quan trọng sinh thái quốc tế.

Khu bảo tồn sinh thái Black-faced Spoonbill
Khu bảo tồn là nơi triển lãm loài chim Black-Faced trên bờ biển phía tây Đài Nam nằm cạnh khu sinh thái của sông Wen Tseng và là nơi cư trú của các sinh vật sống ở đó, đặc biệt loài cò thìa cực kỳ hiếm. Khu bảo tồn này mở cửa 24 giờ, là một phần nhỏ của vùng đất ngập nước, dành riêng để bảo vệ các loài chim nước.

Núi Qigu Salt
Nằm ở Thất Cổ, gần Qigu Lagoon, núi Qigu Salt là một trong những điểm thu hút phổ biến nhất ở Đài Nam. Phía dưới là các hồ trên đất liền lớn nhất tại Đài Loan, giàu tài nguyên sinh thái và môi trường sống cho cò thìa mùa đông di cư hay loài chim đen mặt. Khu vực này còn là cái nôi sản xuất trữ lượng muối lớn nhất của quốc gia. Ngoài ra còn có các loại khoáng sản quan trọng, quý hiếm. Có hai gò đất lớn, nằm ở 2 bên. Các gò đất lớn có khoảng 60.000 tấn muối. Từ đây, du khách được cung cấp tầm nhìn tuyệt vời ra các ruộng muối khác nhau và môi trường xung quanh.

Suối nước nóng Guanzilling
Khu vực này được chia thành 2 phần, khu vực suối nước nóng cũ nằm ở thung lũng có giá rẻ và suối nước nóng nằm trên đỉnh đồi gần đó có mức giá đắt hơn so với suối cũ. Có những chuyến xe buýt hàng giờ chạy từ Chiayi trạm xe buýt Zhongshan Rd ‘s, hàng trăm mét xuống các đường phố từ ga đường sắt TRA. Thời gian di chuyển mất khoảng một giờ ($ 79), kết thúc tại hội nghị thượng đỉnh gần khu nghỉ mát Toong Mao. Ngoài ra, bạn có thể đi taxi với giá là $ 400. Ngoài ra còn có tám xe buýt hàng ngày (30 phút) từ trạm TRA Sinying.

Bảo tàng Chimei
Các Bảo tàng Chimei là một bảo tàng tư nhân được thành lập vào năm 1992 bởi Tổng công ty Mei Chí tại Quận Rende.

Hình ảnh khuôn viên trước bảo tàng ChiMei vào buổi tối

Bộ sưu tập của bảo tàng được chia thành năm loại: Nghệ thuật phương Tây (bao gồm hội họa, điêu khắc, nghệ thuật trang trí và thời kỳ đồ nội thất); Nhạc cụ; Lịch sử tự nhiên; Vũ khí và áo giáp; Cổ vật và hiện vật. Bảo tàng được biết đến với bộ sưu tập đàn violin lớn nhất trên thế giới và là nơi chứa bộ sưu tập quan trọng của vũ khí cổ xưa, các bức tranh và tác phẩm điêu khắc của phương Tây.

Chùa Nankunshen
Toàn bộ khu vực đền bao gồm các tòa nhà hoành tráng và cảnh quan khu vườn rộng rãi với rất nhiều đồ trang trí tinh tế và biến thủ công tinh tế.

Chùa Nankunshen ngôi chùa được tạo nên bởi 2,200 kg Vàng

Chùa Nankunshen mất gần nửa thế kỷ xây dựng và sử dụng 2.200 KG vàng (15 triệu USD) cho tất cả các đồ trang trí bằng vàng và tác phẩm điêu khắc. Tòa nhà vàng này bao gồm một bức tượng đài rộng khoảng 6,6 m cao và 2,0 m, nặng 405 kg toàn bộ vàng nguyên chất.

Ngoài những địa điểm đẹp tại thành phố Đài Nam bạn còn có thể thưởng thức các món chè, tào phớ, mỳ Danzai, cơm Thổ Nhĩ Kỳ…… Tuy là một thành phố cổ nhưng tại Đài Nam cũng có các khu mua sắm hiện đại như Chien Chiang Yue ( số 159-4 đường NanMen, đối diện công viên NamMen) , Amenity and Organic( số 7 đường ShingHua, cuối đường ChingNian ) ….

Nếu có cơ hội sống và làm việc tại Đài Nam thì các bạn đừng bỏ lỡ nhé. Tuy không nhộn nhịp như Đài Bắc, không nhiều đồi núi như Đài Trung nhưng Đài Nam thật sự là một thành phố yên bình cho các bạn đó.

                  Danh sách đơn hàng xuất khẩu lao động Đài Loan khu vực Đài Nam mới nhất 

 

Check Also

Dân cư mạng Đài Loan xúc động hình ảnh Soái ca Việt Nam nhường chỗ cho em bé đi tàu hỏa.

Trang Taiwan News mới đây đã đăng tải bức ảnh chụp lại khoảnh khắc xúc động khi …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *